fbpx

Vi khuẩn Whitmore bị nhầm với ‘khuẩn ăn thịt người’

Gần đây trên các phương tiện truyền thông đang xôn xao về vi khuẩn “Ăn thịt người” Whitmore, nhưng “Ăn thịt người” lại là biệt danh của vi khuẩn Vibrio vulnificus, làm hoại tử mô nên có cảm giác đang ăn thịt, còn gây Whitmore là khuẩn Burkholderia pseudomallei. Thực tế vi khuẩn gây Whitmore có tên Burkholderia pseudomallei, gây chết người do viêm phổi, nhiễm trùng máu. Trường hợp nặng nhất có thể suy nội tạng khi không điều trị kịp thời và đúng cách. Vi khuẩn này kháng nhiều loại kháng sinh thông thường, hệ miễn dịch của cơ thể không chống lại chúng một cách hữu hiệu, hiện nay vi khuẩn Whitmore chưa có vắcxin phòng bệnh.

Tiến sĩ Trịnh Thành Trung, Trưởng phòng quản lý Khoa học và Công nghệ, Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội, người có 15 năm kinh nghiệm nghiên cứu về bệnh Whitmore, khẳng định vi khuẩn Whitmore không phải là “vi khuẩn ăn thịt người”.

Vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây bệnh Whitmore. Ảnh: aljazeera

Vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây bệnh Whitmore.

Whitmore là bệnh vùng, phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á và phía Bắc Australia, trong đó vùng Đông Bắc Thái Lan (gần với miền Trung Việt Nam) được coi là tâm điểm của dịch bệnh trên thế giới. Singapore là đất nước có tỷ lệ người dân ít mắc bệnh nhất Đông Nam Á, song hàng năm số người mắc Whitmore tại đất nước không làm nông nghiệp này rất nhiều, trung bình tỷ lệ 1,3 người/100.000 dân. Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa mưa, tập trung tháng 7-11.

Theo bác sĩ Đỗ Duy Cường, Giám đốc Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, Whitmore được coi là “kẻ mạo danh” vì bệnh không có những biểu hiện lâm sàng rõ ràng và thường bị chẩn đoán lâm sàng nhầm sang các bệnh khác như viêm phổi, lao phổi, áp xe cơ, nhiễm trùng huyết do các vi khuẩn khác như tụ cầu, liên cầu… Chẩn đoán chính xác bệnh phải dựa trên các xét nghiệm phân lập và định danh vi khuẩn trong các mẫu bệnh phẩm máu, mủ, đờm, nước tiểu, hoặc dịch não tủy.

Thời gian ủ bệnh thường từ một đến 21 ngày, trung bình là 9 ngày. Mức độ nghiêm trọng của bệnh dựa vào tình trạng nhiễm trùng, có thể gây sốt, ho, đau ngực, đau đầu, chán ăn, đau khớp, suy hô hấp… Người bệnh tiểu đường, người bị nhiễm HIV, bệnh phổi mãn tính, bệnh thận mãn tính và ung thư có nguy cơ tử vong cao hơn khi nhiễm vi khuẩn này.

Đường lây nhiễm chủ yếu do hít phải bụi bẩn, giọt nước hoặc uống phải nước bị ô nhiễm chứa vi khuẩn và tiếp xúc với đất bị ô nhiễm chứa vi khuẩn, đặc biệt là qua các vết trầy xước trên da. Việc lây nhiễm giữa người với người rất khó xảy ra trong quan hệ thường ngày, chỉ có thể xảy ra qua quan hệ tình dục, hoặc sử dụng chung kim tiêm, lây qua đường máu.

Điều trị bệnh Whitmore hết sức khó khăn, phải dùng kháng sinh nhóm ceftazidime hoặc carbapenem, cotrimoxazole tấn công liều cao liên tục trong ít nhất khoảng 2 tuần, sau đó dùng kháng sinh duy trì 3 đến 6 tháng nữa. Nếu không được điều trị đúng liều, đúng phác đồ và theo dõi sát sao, bệnh dễ tái phát, sức khỏe bệnh nhân suy kiệt dần và có thể tử vong. Quá trình theo dõi điều trị bệnh kéo dài, lại tốn kém nên không ít bệnh nhân đã bỏ cuộc. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại trong điều trị và tỷ lệ tử vong cao.

Người trong vùng nhiễm nên tránh tiếp xúc trực tiếp với đất hoặc nước bẩn tù đọng. Người tiếp xúc với đất và nước nên sử dụng ủng cao su, găng tay cao su.

Dự báo của các chuyên gia quốc tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng 10.000 ca nhiễm bệnh và khoảng 5.000 ca tử vong. Hiện có 38 bệnh viện ở 26 tỉnh, thành phố được đào tạo về phương pháp xét nghiệm bệnh, phát hiện gần 1.000 ca nhiễm Whitmore trong cả nước. Đầu năm 2019 đến nay, tại Trung tâm Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Bạch Mai, đã ghi nhận tới 20 ca, chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ. Bệnh cảnh lâm sàng đa dạng phức tạp, thường bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khác như viêm phổi, lao phổi, áp xe cơ, nhiễm trùng huyết do các vi khuẩn khác như tụ cầu, liên cầu…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *